Thứ Sáu, 10 tháng 9, 2010

Thị truờng 9 - 9 -2010

BẢN PHÂN TÍCH THỊ TRƯỜNG FX                       Ngày 09 tháng 09 năm 2010



I. Tổng kết sơ luợc thị trường trong ngày:
            Kinh tế Mỹ:
Chứng khoán tăng điểm trở lại nhờ vào tin tích cực từ châu âu. Và kế hoạch chi thêm 350B$ để hỗ trợ thị trường việc làm. Sẽ là những yếu tố gây dựng lại lòng tin cho nhà đầu tư.
            Kinh tế Châu Âu:
            Chính phủ Bồ Đào Nha bán thành công  hơn 1B EURO trái phiếu với lực cầu cao là thông tin khích lệ cho khu vực đồng EURO, mặc dù vậy những thông tin xấu từ Đức và Hy Lạp vẫn khiến những nhà đầu tư không khỏi nghi ngại về khả năng khủng hoảng xảy ra tai khu vực này.
            Xuất khuẩu của Đức bất ngờ giảm trong tháng 7, cùng với lượng đơn đặt hàng tại các nhà máy công nghiệp giảm là tín hiệu cho thấy sự chững lại đà hồi phục của khu vực EURO.
            Hy Lạp công bố kết quả GDP lại giảm so với quý trước, đồng thời ngân hàng trung ương Hy Lạp lại có kết hoạch phát hành trái phiếu để bơm vốn cho nền kinh tế. Cho thấy sự suy thoái sâu hơn tại nước này.
            Kinh tế Châu Á:
            Thông tin về Australia thuê thêm gần 40.000 nhân cùng với những thông tin tốt trứoc đó của AU, làm cho đồng AUD đang có khuynh huớng tăng tốt.
II. Những yếu tố cơ bản và kỹ thuật ảnh hưởng đến FX
            Hôm nay thị trường tiền tệ đã đón nhận thông tin về chỉ số giá cả tại anh  tăng lên kỳ vọng và sự phục hồi của thị truờng.
            Đơn đặt hàng tại các nhà máy lớn của Nhật tăng.
            Vay mua nhà tại AU tăng là thông tin tốt nhất nhận được.
Về yếu tố kỹ thuật:
EUR/USD [1.2703] : Biên độ dự kiến [1.2750 – 1.2600] Thực tế [1.2764 -  2664]
 Biên độ rất thị trường hẹp trong ngày.
Chiến lược giao dịch:
Mua tại  [1.2586 – 1.2600] muc tieu [1.2700 – 1.2750]

Thứ Năm, 22 tháng 7, 2010

Thứ Bảy, 17 tháng 7, 2010

Carry Trade là gì?

Phải công nhận là kiến thức về forex rất mênh mông, hic hic sau đây về loạt bài để gom những kiến thức đó về cái blog này.

Carry Trade là một chiến thuật mà trong đó nhà đầu tư bán một ngoại tệ cụ thể có tỉ số lãi suất cho vay tương đối thấp và dùng số tiền thu được để mua một loại ngoại tệ khác có tỉ số lãi suất tương đối cao. Trader sử dụng chiến thuật này luôn cố gắng để bắt được sự chênh lêch giữa các tỉ giá - điều mà thường rất vững,  phụ thuộc vào khối lượng leverage mà nhà đầu tư đó chọn dùng.

 
Đây là ví dụ về  carry trade với tiền yen: một trader mượn 1000 yên Nhật từ một ngân hàng Nhật, đổi sang tiền Mỹ và mua một trái phiếu với giá trị tương đương. Giả sử ràng trái phiếu đó trả 4.5% và lãi suất cho vay của Nhật được đặt ở mức 0%. Trader sẽ có một khoảng lợi nhuận là 4.5% (4.5%-0%), miẽn là tỉ giá trao đổi giữa 2 nước này ko thay đổi. Rất nhiều trader chuyên nghiệp sử dụng phương pháp trade này vì lợi nhuận đạt được có thể rất lớn khi xét đến leverage. Trong ví dụ trên, nếu người trader này dùng một mức leverage chung là 10:1 thì người ấy sẽ có được mức lợi nhuận là 45%.

Mạo hiểm lớn nhất trong một giao dịch carry trade là sự thiếu chắc chắn của tỉ giá trao đổi. Cùng dùng ví dụ trên, nếu đồng đô Mỹ hạ giá so với tiền Yên, thì trader ấy có thể gặp phải nguy cơ bị mất tiền. Cũng vậy, những giao dịch này thường là được thực hiện với mức leverager tương đối cao, nên một sự dịch chuyển nhỏ nhất trong tỉ giá trao đổi giữa 2 ngoại tệ cũng có thể dẫn đến những khoảng lỗ khổng lồ trừ khi bạn có phương pháp bao bọc phù hợp (tức là phương pháp trade an toàn nhất )

sóng eliot

Nguyên tắc sóng Elliott là một trong những công cụ phân tích kỹ thuật mà một số nhà kinh doanh chứng khoán dùng để phân tích những xu hướng giá trong các thị trường tài chánh. “Cha đẻ” của nguyên tắc này là Ông Ralph Nelson Elliott (1871-1948). Nghề chính của ông là kế tóan và ông đã nghiên cứu và phát triển ra nguyên tắc này vào những năm 30 của thế kỷ trước.


Theo ông Elliott, sự thay đổi của giá cả sẽ tạo ra những cơn sóng, như hình vẽ. Trong đó một cơn sóng cơ bản sẽ có 5 cơn sóng “chủ” và 3 cơn sóng điều chỉnh. Trong 5 con sóng chủ thì sóng số 1, 3 và số 5 gọi là sóng “chủ và động”, và sóng 2, 4 gọi là sóng “chủ và điều chỉnh”. 2 con sóng điểu chỉnh được gọi là sóng A,B, C.

Trong mỗi một con sóng như vậy lại có những con sóng nhỏ và cũng tuân theo quy luật của lý thuyết Elliot. Một đợt sóng chủ hòan chỉnh sẽ có 89 sóng và đợt sóng điều chỉnh hòan chỉnh sẽ có 55 sóng.

Tùy theo thời gian độ lớn của sóng sẽ được phân theo thứ tự sau

Grant Supercycle: sóng kéo dài nhiều thập kỹ, đôi khi cả thế kỹ
Supercycle: kéo dài từ vài năm đến vài thập kỹ
Cycle: kéo dài từ 1 đến vài năm
Primary: kéo dài từ vài tháng đến vài năm
Intermediate: kéo dài từ vài từ tuần đến vài tháng
Minor: kéo dài trong vài tuần
Minute: Kéo dài trong vài ngày
Minuette: Kéo dài trong vài giờ.
Subminutte: Kéo dài trong vài phút.

Dưới đây là phân tích một con sóng 5-3 điển hình của thị trường trong giai đọan tăng trưởng - “bò húc”. Cũng con sóng 5-3 này trong Thị trường suy thóai – “gấu ngủ” sẽ được vẽ hòan tòan ngược lại.

Dưới đây là phân tích một con sóng 5-3 điển hình của thị trường trong giai đọan tăng trưởng - “bò húc”. Cũng con sóng 5-3 này trong Thị trường suy thóai – “gấu ngủ” sẽ được vẽ hòan tòan ngược lại.
Bấm xem ảnh ở cửa sổ mới
Sóng chủ số 1. Đợt sóng đầu tiên này là có điểm xuất phát từ thị truờng con gấu (suy thóai), do đó sóng 1 ít khi được nhận biết ngay từ đầu. Lúc này thông tin cơ bản về các công ty niêm uớc vẫn đang là thông tin tiêu cực. Chiều hướng của thị trường trước khi sóng 1 xảy ra chủ yếu vẫn là thị truờng suy thoái. Những nhà phân tích cơ bản vẫn đang tiếp tục điều chỉnh thu nhập kỳ vọng thấp xuống so với dự kiến. Khối lương giao dịch có tăng chút ít theo chiều hướng giá tăng. Tuy vậy việc tăng này là không đáng kể. Do đó nhiều nhà phân tích kỹ thuật không nhận ra sự có mặt của đợt sóng số 1 này.

Sóng chủ số 2. Sóng chủ 2 sẽ điều chỉnh sóng 1, nhưng điểm thấp nhất của sóng 2 không bao giờ vượt qua điểm xuất phát đầu tiên của sóng 1. Tin tức dành cho thị trường vẫn chưa khả quan. Thị trường đi xuống ở cuối sóng 2 để thực hiện việc “kiểm tra” độ thấp của thị trường. Những người theo phái con gấu vẫn đang tin rằng thị trường con gấu vẫn đang ngự trị. Khối lượng giao dịch sẽ ít hơn đợt sóng 1. Giá sẽ được điều chỉnh giảm và thuờng nằm trong khoảng 0.382 đến 0.618 của mức cao nhất của sóng 1.

Sóng chủ số 3. Thông thường đây là sóng lớn nhất và mạnh mẽ nhất của xu hướng lên giá. Ngay đầu sóng 3, thị trường vẫn còn nhận những thông tin tiêu cực vì vậy có nhiều nhà kinh doanh không kịp chuẩn bị để mua vào. Khi sóng 3 đang ở lưng chừng, thị trường bắt đầu nhận những thông tin cơ bản tích cực và những nhà phân tích cơ bản bắt đầu điều chỉnh thu nhập kỳ vọng. Mặc dù có những đợt điều chỉnh nho nhỏ trong lòng của sóng 3, giá của sóng 3 tăng lên với tốc độ khá nhanh. Điểm cao nhất của sóng 3 thường cao hơn điểm cao nhất của sóng 1 với tỷ lệ 1,618:1

Sóng chủ số 4. Đây thật sự là một con sóng điều chỉnh. Giá có khuynh hướng đi xuống và đôi khi có thể răng cưa kéo dài. Sóng 4 thường sẽ điều chỉnh sóng 3 với mức 0.382 – 0.618 của sóng 3. Khối lượng giao dịch của sóng 4 thấp hơn của sóng 3. Đây là thời điểm để mua vào nếu như nhà kinh doanh nhận biết được tiềm năng tiếp diễn liền sau đó của con sóng 5. Tuy vậy việc nhận biết điểm dừng của sóng 4 là một trong những khó khăn của các nhà phân tích kỹ thuật trường phái sóng Elliot.

Sóng chủ số 5. Đây là đợt sóng cuối cùng của 5 con sóng “chủ”. Thông tin tích cực tràn lan khắp thị trường và ai cũng tin rằng thị trường đang ở trong thế bò húc. Khối lượng giao dịch của sóng 5 khá lớn , tuy vậy thông thường vẫn nhỏ hơn sóng 3. Điều đáng nói là những nhà kinh doanh “không chuyên nghiệp” thường mua vào ở những điểm gần cuối sóng 5. Vào cuối con sóng 5, thị trường nhanh chóng chuyển hướng.

Sóng điều chỉnh A. Sóng này bắt đầu cho đợt sóng điều chỉnh A,B,C. Trong thời gian diễn ra sóng A, thông tin cơ bản vẫn đang rất lạc quan. Mặc dù giá xuống, nhưng phần đông các nhà kinh doanh vẫn cho rằng thị trường đang trong thế bò húc. Khối lượng giao dịch tăng trưởng khá đều đặn theo con sóng A.

Sóng điều chỉnh B. Giá tăng trở lại và với mức cao hơn so với điểm cuối sóng A. Sóng B được xem là điểm kéo dài của thị trường bò húc. Đối với những người theo trường phái phân tích kỹ thuật cổ điển, điểm B chính là vai phải của đồ thị Đầu và Vai ngược. Khối lượng giao dịch của sóng B thường thấp hơn của sóng A. Vào lúc này, những thông tin cơ bản của các công ty không có những điểm tích cực mới, thế nhưng cũng chưa chuyển hẳn qua tiêu cực.

Sóng điều chỉnh C. Giá có khuynh hương giảm nhanh hơn các đợt sóng trước. Khối luợng giao dịch tăng. Hầu như tất cả mọi nhà kinh doanh, đầu tư đều nhận thấy rõ sự ngự trị của “gấu ngủ” trên thị trường, chậm nhất là trong đợt sóng nhỏ thứ 3 của sóng C. Sóng C thường lớn như sóng A. Điểm thấp nhất của sóng C ít nhất bằng điểm thấp nhất của sóng A nhân với 1.618.

momentum và 1 cách trade đơn giản

Tổng quan:

Chỉ số xung lượng đo tốc độ thay đổi của giá đóng cửa. Nó được sử dụng để nhận diện mức suy yếu của xu thế và các điểm đảo chiều. Chỉ số này thường bị đánh giá thấp do sự đơn giản của nó.

Cách tính chỉ số xung lượng:

Mỗi đơn vị xung lượng là sự chênh lệch về giá giữa đơn vị đó và các đơn vị trước đó trong một số giai đoạn nhất định. Thường thì dựa vào giá đóng cửa, tuy nhiên cũng có một số công cụ vẽ đồ thị cho phép có những lựa chọn khác. Xung lượng được định nghĩa bằng tỉ số giữa giá hiện tại với giá trước đó N giai đoạn.

Momentum = Close(i)/Close(i-N)*100

Với:

Close(i) là giá cuối ngày của thanh hiện thời

Close(i-N) là giá cuối ngày của thanh trước đó N thời kì.

Cách sử dụng:

Đường xung lượng đi lên báo hiệu xu thế tăng giá đang mạnh dần và ngược lại đường đi xuống báo hiệu xu thế giảm giá đang yếu dần. Khi chỉ số xung lượng hướng lên, đó là tín hiệu mua vào và khi hướng xuống thì đó là tín hiệu bán ra.
 Chỉ số này hướng lên hay xuống giúp ích cho việc phát hiện xu hướng, các tín hiệu phân kì và bán quá nhiều/mua quá nhiều.

Ở trên là đồ thị EUR/USD với khung thời gian là 1 giờ. Có thể thấy đường xung lượng đi lên từ A đến B, báo hiệu xu thế tăng giá và đường xung lượng đi xuống từ C đến D báo hiệu xu thế giảm giá.

Đó những định nghĩa về chỉ số xung lượng nói chung và chỉ có ý nghĩa về mặt lý thuyết,không nên chỉ sử dụng chỉ số xung lượng mà phải biết kết hợp với các chỉ số khác đã được kiểm chứng để cho kết quả tốt nhất.

Giải thích:

Cũng như các chỉ số khác, có rất nhiều cách để sử dụng một chỉ số có hiệu quả và thường thì nên kết hợp nhiều chỉ số với nhau trước khi ra một quyết định cuối cùng. Chỉ nên coi chỉ số xung lượng giống như các chỉ số giao động khác, ví dụ MACD chẳng hạn, với số ngày tính toán là 14. Mua khi chỉ số này ở đáy và hướng đi lên trong khi bán khi chỉ số ở đỉnh và hướng đi xuống; tuy nhiên nên sử dụng kết hợp với RSI cho 14 ngày và Bollinger Bands đặt tại 20.

Ví dụ minh họa:

Tín hiệu bán:

Dưới đây là đồ thị EUR/USD với khung thời gian là 1 giờ. Chỉ số xung lượng và RSI tính cho 14 ngày, Bollinger bands đặt tại 20
Xác định vùng RSI vượt quá mức 70 (điểm R) và đi vào khu vực mua quá nhiều. Cùng lúc ta tìm điểm mà ở đó giá chạm đường trên của Bollinger Band (điểm B).

Dưới đây là một trong những cách giao dịch sử dụng kỹ thuật này:

  1. Cho dù cả chỉ số xung lượng và RSI đều chỉ ra thời điểm mua quá nhiều trùng nhau thì vẫn không chắc chắn liệu có thể đó chỉ là một sự dịch chuyển mạnh để sau đó dẫn đến một sự phá vỡ (breakout) trong dài hạn hay không. Vì thế,ta phải đợi cho đến khi 2 chỉ số này bắt đầu giảm. Khi đường giá tiến đến giữa Bollinger band (điểm M), ta bắt đầu đặt lệnh bán trong ngắn hạn.

  2. Đặt mức dừng thua lỗ (stop loss) ngay sau đỉnh vừa được thiết lập (điểm P), nơi mà RSI cũng chạm đỉnh (điểm R) và sau đó bắt đầu giảm.

  3. Khi giá chạm đường dưới của Bollinger Band (điểm T1) ta đã có thể thoát khỏi thị trường.

Đây chỉ là một phương pháp khá hiệu quả.

Ví dụ minh họa:

Tín hiệu mua:

Dưới đây là đồ thị EUR/USD với khung thời gian là 1 giờ. Chỉ số xung lượng và RSI tính cho 14 ngày, Bollinger bands đặt tại 20.
Bắt đầu với việc xác định vùng RSI xuống dưới mức 30 (điểm R) và đi vào khu vực bán quá nhiều. Cùng lúc ta tìm điểm mà ở đó giá chạm đường dưới của Bollinger Band (điểm B). Dưới đây là một trong những cách giao dịch sử dụng kỹ thuật này:

  1. Cho dù cả chỉ số xung lượng và RSI đều chỉ ra thời điểm bán quá nhiều trùng nhau thì vẫn không chắc chắn liệu có thể đó chỉ là một sự dịch chuyển mạnh để sau đó dẫn đến một sự phá vỡ (breakout) trong ngắn hạn hay không. Vì thế, ta phải đợi cho đến khi 2 chỉ số này bắt đầu tăng. Khi giá tiến đến giữa Bollinger band (điểm M), ta bắt đầu đặt lệnh mua với mục đích dài hạn. Một điểm quan trọng cần nhấn mạnh ở đây là khi RSI đi qua đường 30 lần đầu tiên trong khi chỉ số xung lượng đang đi xuống, liệu đây có phải thời điểm bạn nên mua vào hay không? Tất nhiên là không. Đây chính là điểm cốt lõi mà mình muốn chỉ ra về hiệu quả của việc sử dụng chỉ số xung lượng trong việc dự đoán xu hướng khi mà những chỉ số khác không chỉ ra được.

  2. Đặt mức dừng thua lỗ (stop loss) ngay dưới điểm đáy vừa được thiết lập (điểm P), nơi mà RSI cũng chạm đáy (điểm R) và bắt đầu có xu hướng đi lên.

  3. Khi giá chạm đường trên của BollingerBand (điểm T1) ta có thể thoát khỏi thị trường.

Đây chi là một phương pháp khá hiệu quả.

MACD và MACD histogram

MACD - Trung bình động hội tụ/phân kỳ
Kể từ khi được Gerald Appel giới thiệu, MACD đã trở thành một trong những công cụ phân tích kỹ thuật đơn giản và tin cậy nhất. MACD được tính toán dựa trên hiệu số của hai đường trung bình động dài hạn và ngắn hạn, giá trị trả về thuộc nhóm phân tích tương quan: tương quan giữa trung bình động dài hạn và trung bình động ngắn hạn.1. Tính toánVề mặt tính toán MACD lấy một giá trị trung bình động của giá trong ngắn hạn trừ cho giá trị trung bình động trong dài hạn. Thông thường MACD sử dụng EMA – 12 làm trung bình động ngắn hạn và EMA – 26 làm trung bình động dài hạn và cho hiệu số trên.Như vậy nếu MACD > 0 thì trung bình động ngắn hạn lớn hơn trung bình động dài hạn.Nếu MACD < 0 thì trung bình động dài hạn nhỏ hơn trung bình động ngắn hạn.Đồ thị các giá trị của MACD là một máy hiển thị dao động phản ánh tương quan giữa trung bình động ngắn hạn và trung bình động dài hạn. Thông thường đồ thị này được vẽ kèm với đồ thị trung bình động EMA – 9 của chính MACD và đồ thị MACD – Histogram là hiệu số của MACD và trung bình động EMA – 9 của chính MACD. Về MACD - Histogram sẽ được nêu trong một bài khác.2. Ý nghĩaSo với các phương pháp phân tích khác, MACD thuộc về cả hai nhóm phân tích xu thế và phân tích tương quan, MACD vừa chỉ ra xu thế của thị trường vừa xác định các tín hiệu mua và bán trên cùng một đồ thị.Như đã biết trong bài viết về trung bình động, khoảng cách giữa trung bình động ngắn hạn và trung bình động dài hạn thể hiện xu thế tăng hoặc giảm của thị trường. Nếu trung bình động ngắn hạn lớn hơn trung bình động dài hạn thì xu thế là tăng giá và MACD có giá trị dương. Nếu giá trị MACD dương và ngày càng lớn thì xu thế thị trường tăng ngày càng mạnh, phe bò tót ngày càng thắng áp đảo. Nếu trung bình động ngắn hạn nhỏ hơn trung bình động dài hạn thì xu thế là giảm giá và MACD có giá trị âm. Nếu giá trị MACD âm và ngày càng nhỏ thì xu thế thị trường giảm ngày càng mạnh, phe gấu ngày càng thắng áp đảo. Đường trung bình của MCAD là 0 nơi mà trung bình động giá ngắn hạn gặp trung bình động giá dài hạn, tại đây bắt đầu có sự đổi chiều về xu thế của thị trường.
MACD-Histogram dự đoán MACD  Thomas Aspray giới thiệu MACD – Histogram vào năm 1968 như một giải pháp làm giảm thiểu độ trễ của MACD. Như đã biết sự giao cắt giữa MACD và đường trung bình động EMA của chính nó là phát pháo lệnh cho các hành vi mua và bán của nhà đầu tư. Tuy nhiên nếu ngồi chờ phát pháo lệnh này thì sự việc có thể đã trễ. Vì vậy MACD – Histogram được ra nhằm mục đích dự đoán sự xuất hiện của phát pháo lệnh trước khi nó xảy ra, nhờ đó nhà đầu tư có thể ra quyết định mua/bán kịp thời hơn so với việc chờ đợi sự giao cắt giữa MACD và đường trung bình động của chính nó.1. Tính toánGiá trị của MACD – Histogram được tính bằng hiệu của MACD và giá trị trung bình động EMA của chính MACD. Thông thường nếu chọn MACD được tính bằng hiệu hai đường trunhg bình động của giá là EMA – 12 và EMA – 26 thì giá trị trung bình động EMA của chính MACD được chọn là 9 phiên.Đồ thị MACD – Histogram được vẽ trên cùng đồ thị với MACD dưới dạng biểu đồ hình cột. Nếu MACD vượt đường trung bình động EMA của chính nó thì MACD – Histogram dương và biểu đồ cột quay lên trên. Nếu MACD nằm dưới đường trung bình động EMA của chính nó thì MACD – Histogram âm và biểu đồ cột quay xuống dưới. Hình dưới là đồ thị MACD – histogram của Công ty Cổ phần Cảng Đoạn Xá (DXP) minh hoạ về đồ thị MACD – Histogram dưới dạng các cột màu xanh. Khi MACD – Histogram bằng 0 là lúc có sự giao cắt giữa MACD và trung bình động của chính nó.2. Ý nghĩaMACD phản ánh sự chênh lệch giữa giá trị của MACD và giá trị trung bình động EMA – 9 của chính MACD.Nếu giá trị của MACD – histogram dương và càng lớn thể hiện phe bò tót càng thắng thế trên thị trường. Nếu giá trị MACD – histogram âm và càng nhỏ thì phe gấu càng thắng thế trên thị trường.Việc giao cắt giữa MACD và đường trung bình động của chính nó là một hiệu lệnh cho hành vi mua vào hoặc bán ra. Tại điểm giao cắt này MACD – Histogram có giá trị 0. Bằng việc dựa vào sự tăng giảm của MACD – Histogram để dự đoán việc MACD – Histogram bằng 0 sẽ xảy ra, nhờ đó MACD – Histogram đưa ra khuyến cáo về một hành vi mua bán của nhà đầu tư nên đến sớm hơn. Kỹ thuật sử dụng để dự đoán như vậy chính là phân kỳ dương và phân kỳ âm.Hình dưới là đồ thị MACD – histogram của Công ty Cổ phần Cảng Đoạn Xá (DXP) minh hoạ về sự xuất hiện của phân kỳ dương và âm trên MACD – Histogram sớm dự báo sự giao cắt cắt của MACD và trung bình động của chính nó.
3. Sử dụngNếu đường MACD đang ở trên đường trung bình, giá cả đang lên nhưng MACD – Histogram có sự xuất hiện của phân kỳ âm thì dấu hiệu này cảnh báo về sự giao cắt của MACD với trung bình động của chính nó và sẽ thấp hơn trung bình động. Lúc này nhà đầu tư có thể ra quyết định bán ra sớm hơn việc chờ đợi sự giao cắt mới ra quyết định bán.Nếu đường MACD đang ở dưới đường trung bình, giá cả đang xuống nhưng MACD – Histogram có sự xuất hiện của phân kỳ dương thì dấu hiệu này cảnh báo sự giao cắt của MACD và đường trung bình động EMA của chính nó và cao hơn trung bình động. Lúc này nhà đầu tư có thể ra quyết định mua vào sớm hơn là việc chờ đợi sự giao cắt mới ra quyết định mua.Chú ý rằng việc sử dụng MACD – Histogram để phán đoán cũng như sử dụng MACD giao cắt trung bình động EMA của chính nó được sử dụng dựa trên sự phối hợp bổ trợ với các phép phân tích khác.Ngoài ra vì MACD – Histogram dự đoán sự giao cắt của MACD nên dù có độ trễ ít hơn so với MACD nhưng tính chính xác lại kém hơn. Sử dụng một biện pháp phỏng đoán gián tiếp qua một dấu hiện dự đoán khác thì sẽ kém an toàn hơn là sử dụng phép dự đoán trực tiếp. Xét ví dụ về giá cổ phiếu của Công ty Cổ phần bao bì Bình Dương – HBD
* Tại khoảng thời gian số 1, có rất nhiều tín hiệu xuất hiện lần lượt tại các thời điểm khác nhau: sự giao cắt của giá và đường trung bình động SMA – 5, giá rót rất mạnh sau khi giao cắt đường này, RSI cắt ngưỡng siêu mua và đi xuống dưới, sự xuất hiện của phân kỳ âm trên MACD – Histogram và sự giao cắt của MACD với đường trung bình động của nó. Tín hiệu cuối cùng về sự giao cắt của MACD với đường trung bình động của nó là phát pháo lệnh chắc chắn nhất đòi hỏi nhà đầu tư phải rút lui gấp nếu không muốn bị thua lỗ thêm mặc dù lúc đó giá có tăng trong ngắn hạn một vài phiên. Ví dụ này cho thấy việc sớm dự báo giảm giá giúp nhà đầu tư sớm thoát khỏi thị trường hơn là chờ đợi phát pháo lệnh cuối cùng. * Tại khoảng thời gian số (2), có nhiều tín hiệu báo hiệu về sự tăng giá mạnh: Giá giao cắt trung bình động SMA – 5 và vượt lên rất mạnh so với trung bình động, sự xuất hiện của phân kỳ dương trên MACD - Histogram, RSI vượt lên ngưỡng siêu bán. Tuy nhiên phát pháo lệnh cuối cùng và chắc chắn nhất là sự giao cắt của MACD và trung bình động của nó đã không xảy ra và giá đã không thực sự tăng mạnh và nhanh chóng giảm. Ví dụ này điểm hình cho tính chất sớm nắm bắt thời cơ mang lại nhiều lợi nhuận hơn nhưng khả năng chính xác kém hơn. * Tại khoảng thời gian số (3), nhiều dấu hiệu về sự tăng giá xuất hiện: phân kỳ dương xuất hiện đồng thời trên RSI và MACD – histogram, RSI vượt lên trên ngưỡng siêu bán. Những tín hiệu này xảy ra trước phát pháo lệnh cuối cùng là sự giao cắt giữa MACD và trung bình động của chính nó. Tuy nhiên cũng cần cảnh giác với biến động dập dềnh của giá trong giai đoạn này. * Tại khoảng thời gian số (4): sự xuất hiện của phân kỳ âm, ngưỡng siêu mua trên RSI không còn và sự giao cắt và rớt mạnh của giá so trung bình động thúc giục sự rút lui của nhà đầu tư. Lúc này chưa có phát pháo lệnh cuối cùng là sự giao cắt MACD và trung bình động của chính nó, giá đã có sự tăng trở lại. Giá sắp tới sẽ như thế nào? Cần phải chờ đợi những tín hiệu chắc chắn hơn hay phải rút lui cho kịp thời?

Lãi suất ảnh hưởng đến giá ck như thế nào

Cái chúng ta bàn ở đây là sự biến động của lãi suất,chính là lãi suất chiết khấu vậy lãi suất chiết khấu là gì?
Lãi suất
Bình thường, lãi suất thực chất không là gì khác hơn ngoài chi phí mà một ngưòi phải trả cho việc sử dụng tiền của người khác. Đối với hầu hết chúng ta thì thuật ngữ” lãi suất” có lẽ là không có gì xa lạ. Nếu ai đã từng có vay tiền của ngân hàng để trang trải chi phí học hành, hay để mua nhà trả góp theo các chương trình hấp dẫn của các ngân hàng, hay đơn giản là vay vốn về đầu tư cho các dự án đang cần tài trợ thì hơn ai hết họ là những người hiểu rõ nhất về “lãi suất”. Thế nhưng câu chuyện về lãi suất khi nó chạy sang thị trường chứng khoán lại không dừng lại ở đó. Thuật ngữ “ lãi suất” mà chúng ta đề cập ở đây vượt xa hơn ý nghĩa của chính nó trong các ví dụ trên.

Lãi suất có thể ảnh hưởng đến toàn bộ nhà đầu tư chính là lãi suất chiết khấu của ngân hàng trung ương (ở VN là ngân hàng nhà nước). Lãi suất chiết khấu là chi phí mà các ngân hàng thuơng mại phải trả cho việc vay tiền từ ngân hàng trung ương. Nói rõ ràng hơn thì khi các ngân hàng thương mại cần tiền, họ có thể vay ở ngân hàng trung ương bằng cách mang chiết khấu các giấy tờ có giá với một lãi suất do ngân hàng trung ương công bố từ trước, gọi là lãi suất chiết khấu.

Nhưng tại sao con số này lại quan trọng đến như vậy?

Bởi đó là một trong những cách hữu hiệu nhất mà ngân hàng trung ương nỗ lực để kiểm soát lạm phát. Hiện tượng sức mua của tiền bị giảm, đồng tiền mất giá liên tục trong một thời gian dài, không phải do các yếu tố bất thường gây ra thì đó chính là lạm phát. Không một quốc gia nào muốn để lạm phát ở mức cao. Việt Nam cũng không nằm ngoài mục tiêu đó, chúng ta đang cố gắng khống chế tỷ lệ lạm phát ở mức 8%. Bằng việc thay đổi lãi suất chiết khấu, ảnh hưởng đến lượng cung tiền trong xã hội, ngân hàng trung ương hy vọng có thể kiểm soát lạm 1068516.jpgphát. Đây cũng là cách làm phổ biến của hầu hết các quốc gia.

Hiểu một cách cơ bản nhất thì khi ngân hàng trung ương gia tăng lãi suất chiết khấu tức là họ đang nỗ lực làm cho lượng cung tiền trong xã hội giảm bằng cách tạo chi phí vay tiền đắt hơn.

Vấn đề là lãi suất chiết khấu này ảnh hưởng đến tt cổ phiếu và tt trái phiếu như thế nào.
Tác động đến thị trường chứng khoán
Rõ ràng, sự thay đổi trong lãi suất chiết khấu đã ảnh hưởng đến hành vi của các cá nhân cũng như các doanh nghiệp, nhưng câu chuyện không chỉ có như vậy mà thị trường chứng khoán cũng bị ảnh hưởng. Như chúng ta đã biết, một trong những cách để định giá một doanh nghiệp chính là đưa tất cả các dòng tiền kỳ vọng trong tương lai chiết khấu về hiện tại. Lấy giá trị của doanh nghiệp chia cho số lượng cố phần đang lưu hành ta có giá trị một cổ phần. Gía chứng khoán thay đổi tuỳ theo các kỳ vọng khác nhau của nhà đầu tư về công ty ở các thời điểm khác nhau. Do đó mà nhà đầu tư sẵn sàng mua hoặc bán cổ phần ở các mức giá khác nhau.

Một khi doanh nghiệp bị thị trường nhìn thấy là sẽ cắt giảm các chi phí đầu tư tăng trưởng hoặc là doanh nghiệp đang tạo ra lợi nhuận ít hơn vì chi phí vay nợ tăng cao hoặc là doanh thu sụp giảm do người tiêu dùng thì dòng tiền tương lai được dự đoán sẽ giảm đi. Và hệ quả là giá cổ phần của doanh nghiệp sẽ thấp xuống. Nếu số lượng doanh nghiệp trên TTCK có sự sụp giảm này đủ lớn thì xét toàn bộ thị trường, chỉ số thị trường chứng khoán sẽ giảm.

Tác động đến đầu tư
Đối với nhiều nhà đầu tư, thị trường đi xuống hoặc giá chứng khoán sụt giảm là điều không hềrtr0027.jpg mong muốn. Nhà đầu tư nào cũng kỳ vọng giá trị khoản đầu tư của mình sẽ không ngừng tăng lên, có thể là ở dạng lãi vốn, cổ tức hoặc cả hai. Nhưng với kỳ vọng về sự tăng trưởng trong tương lai thấp hơn và dòng tiền trong tương lai của doanh nghiệp không tốt như mong đợi, chắc chắn không nhà đầu tư thông minh nào tiếp tục đánh giá cao doanh nghiệp, nhà đầu tư sẽ mong đợi ít hơn khi sở hữu các cổ phần.

Hơn nữa, đầu tư vào cổ phiếu có thể được xem là rủi ro hơn so với việc đầu tư vào các lĩnh vực khác. Khi ngân hàng trung ương công bố tăng lãi suất chiết khấu, thường sẽ kèm theo là các chứng khoán chính phủ mới được phát hành thí dụ như trái phiếu chính phủ. Đây được xem là cơ hội đầu tư an toàn nhất. Nói cách khác, lúc này tỷ suất sinh lợi phi rủi ro sẽ tăng và do đó đầu tư vào trái phiếu chính phủ và các cơ hội đầu tư tương tự trở nên hấp dẫn hơn

Vậy lãi suất tăng sẽ làm giá cổ phiếu giảm,thị trường chướng khoán sẽ kém hấp dẫn các nhà đầu tư
Cần làm rõ 1 câu trong bài trích trên
Khi ngân hàng trung ương công bố tăng lãi suất chiết khấu, thường sẽ kèm theo là các chứng khoán chính phủ mới được phát hành thí dụ như trái phiếu chính phủ. Đây được xem là cơ hội đầu tư an toàn nhất


Điều này theo M thì có nghĩa là khi tăng lãi suất chiết khấu có nghĩa là ngân hàng trung ương muốn kiềm chế lạm phát việc phát hành trái phiếu chính phủ để giảm cung tiền cho nền kinh tế.Nên mua trái phiếu này thay vì đầu tư vào ttck vì nó ít rủi ro
Nhưng rõ ràng nếu lãi suất cơ bản hạ thì là lúc trái phiếu hấp dẫn dc mua vào nhìu(giá TP tăng),và khi lãi suất cơ bản tăng cao thì là lúc trái phiếu dc bán ra nhiều(giá TP hạ).Điều này mâu thuẫn gì với việc mua trái phiếu chính phủ khi lãi suất chiêt khấu tăngstupidĐau đầu thiệt.
Theo M thì việc tăng lãi suất chiết khấu kèm theo trái phiếu chính phủ thì trái phiếu CP lúc đó đã có mức lợi tức phù hợp với lãi suất thì trường lúc đó nên việc đó sẽ ko liên quan đến lập luân "nếu lãi suất cơ bản hạ thì là lúc trái phiếu hấp dẫn dc mua vào nhìu(giá TP tăng),và khi lãi suất cơ bản tăng cao thì là lúc trái phiếu dc bán ra nhiều(giá TP hạ)"
Đã gần hết hoàng hôn rồiuplook tạm thời pause cái chủ để này lại đây.mong có mấy nhân sỹ đóng góp thêm ý kiến nhất là VO COC.

Hạn chế của việc áp dụng trần lãi suất

Lãi suất cho vay trần được trích dẫn trong điều 476 của Bộ luật Dân sự: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng".
việc định ra lãi suất trần như vậy có những hạn chế như sau theo nhận định của M.

Việc áp dụng trần lãi suất như vậy sữ ảnh hưởng đến khách hàng cá nhân,nhất là những cá nhân và hộ gia đình có nhu cầu vay vốn tiêu dùng do chi phí quản lý cao. Thực tế cho thấy các khoàn vay tiêu dùng có kỳ hạn ngắn vòng quay vốn nhanh, đồng vốn dc thu hồi nhanh chóng nên chấp nhận lãi suất cao hơn lãi suất kinh doanh của doanh nghiệp.

Việc áp dụng trần lãi suất sẽ ảnh hưởng đến những ngân hàng bán lẻ, vì nếu nếu áp dụng cùng 1 mức lãi suất thì khả năng tiếp cận vốn của vay tiêu dùng sẽ bị xếp sau thứ tự ưu tiên, ảnh hưởng tiêu cực và đẩy khách hàng cá nhân ra khỏi hệ thồng ngân hàng, họ phải tìm đến thị trường không chính thức với lãi suất cao.

Quy định trần lãi suất như nhau cho mọi loại hình kinh tế và mọi đối tượng cần vốn là không hợp lý, ta không thể đánh đồng các dự án tốt với dự án xấu rủi ro cao đòi hỏi chi phí cho vay phải cao hơn để bù đáp rủi ro.

Ngoài ra áp dụng trần lãi suât cũng sẽ làm hạn chế sự phát triển và ra đời của các sản phẩm tín dụng khác yêu cầu 1 lãi suất cao hơn.

Sau đây là kiến nghị của hiệp hội ngân hàng VN (VNBA).trích báo dân trí.

Công văn số 484/HHNH của VNBA gửi Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Quốc hội và Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội về việc cho vay thoả thuận của các tổ chức tín dụng không áp dụng trần lãi suất có dẫn Điều 476 của Bộ luật Dân sự: “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng”.

Theo VNBA, mục tiêu chính của quy định này là nhằm ngăn chặn việc cho vay nặng lãi trong nền kinh tế, thường xảy ra trong quan hệ giữa dân với dân và để tạo ra căn cứ cho tòa án xét xử khi có tranh chấp xảy ra.

Tuy nhiên, quy định trên trong thực tế vẫn được hiểu là áp dụng để xử lý lãi suất cho vay cho các tổ chức tín dụng, mặc dù hoạt động của tổ chức tín dụng được điều chỉnh bởi 2 Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật Tổ chức tín dụng.

Vì vậy, căn cứ vào quy định trên tại Bộ Luật dân sự, ngày 16/5/2008, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã ban hành Quyết định số 16/2008/QĐ-NHNN về cơ chế điều hành lãi suất cơ bản bằng đồng VND; trong đó, định kỳ hàng tháng, NHNN công bố lãi suất cơ bản.

Kể từ đó đến nay, NHNN đã 7 lần công bố thay đổi mức lãi suất cơ bản, do vậy, mức trần lãi suất cho vay tối đa của các tổ chức tín dụng cũng thay đổi tương ứng theo từng lần công bố.

4 lý do để xoá trần lãi suất

Thứ nhất, việc khống chế trần lãi suất cho vay như thời gian qua là một biện pháp can thiệp hành chính không phù hợp với nền kinh tế thị trường, làm hạn chế sự chủ động và linh hoạt của các ngân hàng thương mại trong vấn đề huy động vốn và cho vay, vì lãi suất (giá cả) hình thành dựa trên quan hệ cung cầu vốn của thị trường.

Mức lãi suất cho vay của các tổ chức tín dụng được xác định trên cơ sở lãi suất tiền gửi, chi phí huy động vốn, chi phí cho vay, uy tín của khách hàng, mức độ rủi ro của từng khoản vay và yếu tố cạnh tranh trên thị trường.

Thứ hai, việc khống chế trần lãi suất cho vay tức là đánh đồng lãi suất của các loại hình tín dụng làm cho các ngân hàng rất khó đa đạng hóa các sản phẩm dịch vụ, vì mỗi loại hình tín dụng có mức độ rủi ro khác nhau, chi phí khác nhau, vì vậy lãi suất cho vay khác nhau, lãi suất tín dụng tiêu dùng và tín dụng bán lẻ khác với lãi suất cho vay doanh nghiệp và các loại hình tín dụng thông thường.

Mặt khác, chính sách lãi suất trần cứng nhắc cũng làm hạn chế sự phát triển của các dịch vụ tài chính mới của các ngân hàng như tín dụng bán lẻ, tín dụng tiêu dùng, đây là những sản phẩm tất yếu của ngân hàng hiện đại.

Thứ ba, để kiểm soát sự biến động bất thường của lãi suất trên thị trường tiền tệ, NHNN đã có các công cụ để kiểm soát như lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, nghiệp vụ thị trường mở và điều hành khối lượng tiền cung ứng mà không cần giải pháp hành chính cứng nhắc như điều 476 của Bộ Luật dân sự đã quy định.

Thứ tư, Nghị quyết số 23/2008/NQ-QH12 ngày 6/11/2008 của Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ tư, trong đó có cho phép “Các tổ chức tín dụng điều hành lãi suất cho vay trên cơ sở lãi suất cơ bản của NHNN theo quy định của pháp luật và được phép cho vay theo lãi suất thỏa thuận đối với một số dự án sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao”.

2 phương án sửa Luật

Cùng với 4 lý do về việc cho vay thoả thuận, không áp dụng trần lãi suất, VNBA cũng đề xuất sửa Điều 474 và 476 của Bộ Luật dân sự theo 2 phương án:

Phương án 1: Ủy ban Thường vụ Quốc hội giải thích Điều 474 và Điều 476 Bộ Luật dân sự theo hướng “Lãi suất vay do các bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố”, quy định này không điều chỉnh các quan hệ tín dụng của các tổ chức tín dụng. Tổ chức tín dụng hoạt động theo quy định của Luật Ngân hàng Nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng.

Phương án 2: Chỉnh sửa Điều 474 và Điều 476 của Bộ Luật dân sự theo hướng quy định này không áp dụng đối với các tổ chức tín dụng.

VNBA nhấn mạnh các cơ quan làm luật nên sửa Bộ Luật dân sự theo phương án 1 để “đáp ứng kịp thời cho tình hình kinh tế hiện nay, vì chậm ngày nào sẽ gây ách tắc và sự cứng nhắc trong hoạt động ngân hàng, không đáp ứng được những yêu cầu đa dạng của nền kinh tế, nhất là trong giai đoạn suy thoái hiện nay”.